Chủ thể nào dưới đây có quyền thành lập doanh nghiệp?
Mục lục
Trong xã hội hiện đại, mỗi cá nhân được khuyến khích tự do kinh doanh để tăng thêm thu nhập của bản thân. Nhưng để dễ dàng trong việc quản lý thì pháp luật có quy định về quyền thành lập doanh nghiệp của các chủ thể trong xã hội. Ở nước ta hiện nay, chủ thể nào dưới đây có quyền thành lập doanh nghiệp?
Sau đây, Chúng tôi sẽ giới thiệu tới quý vị những nội dung sau để hỗ trợ khách hàng những thông tin cần thiết liên quan quyền thành lập doanh nghiệp.
Quyền tự do thành lập doanh nghiệp là gì?
Theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013, quyền tự do kinh doanh đã được thể chế hóa trong quy định của Luật doanh nghiệp, Điều 7 Luật doanh nghiệp 2020 có quy định về quyền của doanh nghiệp: “Tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm”.
Quyền tự do thành lập doanh nghiệp là quyền của cá nhân hay pháp nhân trong việc tạo lập tư cách pháp lý thông qua các thủ tục, đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Chủ thể tự do thành lập doanh nghiệp
Theo quy định tại Điều 22 Luật Đầu tư 2020 thì cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đều có quyền tham gia thành lập doanh nghiệp.
Khoản 1 Điều 17 Luật doanh nghiệp 2020 cũng quy định về quyền tự do tham gia thành lập doanh nghiệp của cá nhân và tổ chức, theo đó: “Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”. Như vậy, theo Luật doanh nghiệp đối tượng có quyền thành lập doanh nghiệp không phân biệt nhà đầu tư là cá nhân hay pháp nhân; cá nhân, pháp nhân Việt Nam hay cá nhân, pháp nhân nước ngoài.
Như vậy, cá nhân và pháp nhân không thuộc diện bị cấm thành lập doanh nghiệp theo quy định của luật thì đều có quyền tự do thành lập doanh nghiệp.

Chủ thể bị hạn chế quyền thành lập doanh nghiệp
Trong Luật doanh nghiệp không có điều luật quy định cụ thể về chủ thể bị hạn chế quyền thành lập doanh nghiệp. Những hạn chế này được thể hiện rải rác ở một số quy định về từng loại hình doanh nghiệp. Chẳng hạn:
– Điều 188 Luật doanh nghiệp quy định: Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh.
– Điều 180 Luật doanh nghiệp quy định: Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân; không được làm thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại. Thành viên hợp danh không được nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
Ngoài ra, theo biểu cam kết cụ thể về dịch vụ và hàng hóa khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đối với nhà đầu tư nước ngoài trong một số trường hợp bị hạn chế khi tham gia thành lập doanh nghiệp liên quan đến tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Ví dụ: thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ liên quan đến khai thác mỏ, kể từ ngày gia nhập WTO, cho phép thành lập doanh nghiệp liên doanh với tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 49%, sau ba năm kể từ ngày gia nhập, hạn chế này sẽ là 51%, hai năm sau đó cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Chủ thể bị cấm thành lập doanh nghiệp
Để đảm bảo lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội và của Nhà nước cũng như phòng tránh các hệ lụy, khoản 2 Điều 17 Luật doanh nghiệp quy định tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
+) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
+) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức;
+) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
+) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
+) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
+) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng.
Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh;
+) Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Trên đây, là toàn bộ nội dung liên quan đến Ở nước ta hiện nay, chủ thể nào dưới đây có quyền thành lập doanh nghiệp? Mọi thắc mắc liên quan đến nội dung bài viết trên, quý vị có thể liên hệ với chúng tôi để được giải đáp nhanh chóng nhất.
LIÊN HỆ TƯ VẤN – BÁO GIÁ DỊCH VỤ
VUI LÒNG GỌI: 0981.393.686 – 0981.378.999 (HỖ TRỢ 24/7)
—————–*****——————-
HÃY ĐỂ LẠI CÂU HỎI CỦA BẠN BẰNG CÁCH CLICK VÀO Ô DƯỚI ĐÂY, CHÚNG TÔI SẼ TRẢ LỜI SAU 15 PHÚT





















