Giảng viên có được thành lập doanh nghiệp?

  • Tác giả: Trần Văn Nam |
  • Cập nhật: 16/06/2022 |
  • Dịch vụ doanh nghiệp |
  • 36 Lượt xem

Thực tế thấy được rằng ngoài công việc giảng dạy trên lớp nhiều giảng viên còn có nhu cầu kinh doanh riêng, làm việc ngoài giờ để tăng thêm thu nhập. Do đó một trong những vấn đề rất được các giảng viên quan tâm đó là Giảng viên có được thành lập doanh nghiệp?

Giảng viên là gì?

Giảng viên là những người có trình độ chuyên môn, thực hiện công tác giảng dạy hay đào tạo chuyên sâu, thường làm việc tại các trường cao đẳng, đại học hay trung cấp.

Giảng viên cũng chính là những người đảm nhận vai trò chủ chốt trong một trong việc giảng dạy thuộc chuyên ngành hoặc bộ môn nhất định. Họ có thể giảng dạy ở những cấp bậc khác nhau như trung cấp, cao đẳng, đại học hoặc sau đại học.

Họ là những người có kiến thức chuyên môn, tìm hiểu sâu rộng về một chuyên ngành hay một lĩnh vực việc làm nào đó.

Như vậy trước khi tìm hiểu về vấn đề Giảng viên có được thành lập doanh nghiệp? thì phải hiểu được khái niệm giảng viên như trên.

Giảng viên có phải là viên chức không?

Theo quy định của Luật viên chức 2010 thì Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.

Theo đó giảng viên làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ là viên chức.

Vậy giảng viên là viên chức thì Giảng viên có được thành lập doanh nghiệp? nội dung tiếp theo sẽ giải đáp vấn đề này.

Giảng viên có được thành lập doanh nghiệp không?

Theo quy định Tại Điều 17 của Luật Doanh nghiệp 2020 thì tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Tuy nhiên tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam cụ thể được quy định tại Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp như sau:

– Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

– Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức;

– Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;

– Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

– Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;

– Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng.

Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh;

– Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Theo như nội dung đã phân tích ở trên thì giảng viên là viên chức, mặt khác theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 thì cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức thì không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.

Giảng viên có được thành lập doanh nghiệp? câu trả lời là giảng viên không được thành lập doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp.

Viên chức có được góp vốn vào doanh nghiệp không?

Góp vốn được hiểu là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm góp vốn để thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 14 Luật viên chức 2010 quy định về quyền của viên chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định như sau:

Được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.

Như vậy theo quy định như trên thì viên chức được quyền góp vốn vào doanh nghiệp nhưng không được tham gia quản lý và điều hành đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.

->>> Tham khảo thêm: Dịch vụ thành lập công ty tại Hà Nội

->>> Tham khảo thêm: Dịch vụ thành lập công ty tại Hồ Chí Minh

HOTLINE: 0981.378.999 – 0981.393.686 (HỖ TRỢ 24/7)

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE HOẶC BẠN CÓ THỂ CLICK VÀO Ô SAU ĐÂY ĐỂ ĐƯỢC HỖ TRỢ