Quyền nhân thân đối với tác phẩm gồm những quyền gì?

  • Tác giả: Nguyễn Văn Phi |
  • Cập nhật: 30/05/2024 |
  • Bản quyền tác giả |
  • 2654 Lượt xem

Quyền nhân thân đối với tác phẩm là các quyền mang yếu tố tinh thần của chủ thể đối với tác phẩm. Như tên gọi của nó, quyền nhân thân về bản chất là các quyền luôn gắn liền với chủ thể nhất định mà không thể chuyển dịch được. Tuy nhiên, trong đó có nhũng quyền tuy được xác định là quyền nhân thân nhung nó vốn dĩ lại là cơ sở để chủ thể có các quyền đó thực hiện các quyền khác về. tài sản. Và vì thế, muốn thực hiện các quyền về tài sản, người có quyền nhân thân này phải chuyển giao quyền đó cho chủ thể khác.

Quyền nhân thân đối với tác phẩm được phân chia thành hai loại: Quyền nhân thân không thể chuyển dịch và quyền nhân thân có thể chuyển dịch. Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân của chủ thể đối với tác phẩm bao gồm:

1. Quyền đặt tên cho tác phẩm

Thông qua tên gọi của tác phẩm, phần nào tác giả thể hiện ở mức khái quát hóa về chủ đề của tác phẩm và mong muốn có được sự đón nhận của đông đảo công chúng.Việc đặt tên cho tác phẩm không những nhằm cá biệt hóa tác phẩm mà còn thể hiện dấu ấn cá nhân, cá tính sáng tạo của tác giả. Tên tác phẩm còn là cơ sở để người đón nhận tác phẩm có thể hình dung sơ bộ nội dung tư tưởng của tác phẩm ngay từ khi vừa biết đến tên của tác phẩm. Chính vì vậy, quyền đặt tên cho tác phẩm là quyền luôn gắn liền với tác giả và không thể chuyển dịch sang người khác được.

2. Quyền đứng tên tác giả đối với tác phẩm

Quyền đứng tên tác giả được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 738 Bộ luật dân sự và quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ như sau: “Để tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng Theo quyền này, tác giả được tùy ý lựa chọn đứng tên như thế nào đối với tác phẩm, tác giả có thể đứng tên thật của mình với đầy đủ họ, tên, học hàm học vị, chức vụ, cũng có thể chỉ đúng tên.

Trong trường hợp vì một lí do nào đó tác giả không muốn đứng tên thật của mình trên tác phẩm thì tác giả có quyền chỉ đề bút danh, bí danh, thậm chí tác giả có quyền đồng đứng tên đối với tác phẩm. Dù không nêu tên của mình hoặc chỉ đúng bút danh, bí danh trong tác phẩm thì quyền lợi của tác giả đối với tác phẩm vẫn được bảo vệ, miễn là sau khi tác phẩm được công bố, phổ biến, sử dụng tác giả chứng minh được tác phẩm đó là do mình sáng tạo ra và có quyền yêu cầu người sử dụng tác phẩm phải thực hiện các nghĩa vụ đối với các quyền của mình. Đây chính là quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng. Quyền đứng tên tác giả đối với tác phẩm là quyền thân thân luôn gắn liền với tác giả và không thể chuyển dịch.

quyen-nhan-doi-voi-tac-pham

3. Quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả

Tác phẩm là kết quả lao động sáng tạo của tác giả và luôn là một chỉnh thể thể hiện chủ đề tư tưởng sáng tạo của tác giả. Bất cứ hành vi hủy hoại nào đối với tác phẩm cũng đều xâm hại đến kết quả sáng tạo của tác giả cũng như bất cứ hành vi cắt xén, sửa đổi nào đối với nội dung của tác phẩm cũng đều làm thay đổi ít nhiều về ý tưởng sáng tạo của tác giả. VI thế, chỉ có tác giả mới có quyền sửa đổi, bổ sung nội dung tác phẩm của minh. Cũng chỉ có tác giả mới có quyền cho phép người khác sửa đổi, bổ sung nội dung của tác phẩm.

Quyền bảo vệ sự trọn vẹn tác phẩm, quyền không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả là quyền nhân thân luôn gắn liền với tác giả. Vì vậy, bất cứ người nào sửa đổi tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả làm cho chủ đề tư tưởng, giá trị nghệ thuật, văn hóa, khoa học của tác phẩm bị thay đổi so với ý đồ của tác giả đều bị coi là có hành vi xâm phạm quyền tác giả và do đó tác giả có quyền yêu cầu người đó phải chấm dứt hành vi đó, xin lỗi, hoàn lại sự toàn vẹn của tác phẩm và phải bồi thường thiệt hại nếu hành vi đó đã gây ra thiệt hại cho tác giả.

Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm được quy định tại khoản 4 Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ là quyền không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm.

4. Quyền công bố hoặc cho người khác công bố tác phẩm

Công bố tác phẩm là việc phát hành tác phẩm đến cổng chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy thuộc vào bản chất của tác phẩm. Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ của nước ta thì thuật ngữ công bố tác phẩm được hiểu ở diện tương đối hẹp, chỉ bao gồm việc xuất bản các tác phẩm viết, nhân bản và phát hành các các tác phẩm khác mà vật mang tinh thần của tác phẩm là băng ghi âm, ghi hình; đĩa ghi âm, ghi hình và các phương tiện kĩ thuật tương tự khác.

Pháp luật nước ta xác định quyển công bố hoặc cho người khác công bố tác phẩm là quyền lợi tinh thần vì mọi hành vi công bố tác phẩm đều không được làm ảnh hưởng đến danh dự, tiếng tăm của tác giả. Quyền này là cơ sở pháp lí để tác giả bảo vệ danh dự của mình khi người khác xâm hại do công bố tác phẩm của mình.

LIÊN HỆ TƯ VẤN – BÁO GIÁ DỊCH VỤ

VUI LÒNG GỌI:  0981.393.686  0981.378.999 (HỖ TRỢ 24/7)

—————–*****——————-

HÃY ĐỂ LẠI CÂU HỎI CỦA BẠN BẰNG CÁCH CLICK VÀO Ô DƯỚI ĐÂY, CHÚNG TÔI SẼ TRẢ LỜI SAU 15 PHÚT